Xây dựng kế hoạch nghiên cứu tác động cải tạo thực tiễn để nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
10/01/2017

 Nguyễn Thanh Bình

Đại học Sư phạm Hà Nội

                                                                         

Tóm tắt nội dung

Bài viết đề cập đến ý nghĩa của vận dụng Nghiên cứu tác động cải tạo thực tiễnhay còn được gọi với tên khác là Nghiên cứukhoa học Sư phạm ứng dụng (NCKHSPUD) trong việc tìm kiếm biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho HS cũng như phát triển năng lực nghiệp vụ của GV. Từ đó, tác giả  xây dựng  kế hoạch NCKHSPUD theo quy trình 7 bước của Dự án Việt-Bỉ:(1)Hiện trạng;(2)Giải pháp thay thế;(3)Vấn đề nghiên cứu;(4)Thiết kế;(5)Đo lường- thu thập dữ liệu;(6) Phân tích dữ liệu;(7) Kết quả, đồng thời đảm bảo các đặc điểm của NCKHSPUD. Kế hoạch này mang tính hướng dẫn kết hợp với gợi ý để GV áp dụng, thực hành nghiên cứu về biện pháp tích hợp giáo dục KNS cho HS thông qua vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng GDKNS cho học sinh THPT.

Từ khóa: Kế hoạch nghiên cứu tác động cải tạo thực tiễn/ Nghiên cứukhoa họcSư phạm ứng dụng, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT    

I.      Đặt vấn đề

Chương trình Hành động Dakar đã yêu cầu mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kĩ năng sống (KNS) phù hợp (mục tiêu 3) và đánh giá chất lượng giáo dục phải đánh giá KNS của người học ( mục tiêu 6)[5]. Theo đó, từ năm học 2010 – 2011 Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo lồng ghép, tích hợp giáo dục KNS vào hoạt động dạy học và giáo dục. Nhưng trên thực tế việc thực hiện giáo dục KNS cho học sinh chưa có kết quả do nhiều nguyên nhân như: (1) Nhận thức về KNS của GV còn mung lung, chưa phân biệt được KNS và các kỹ năng khác của cuộc sống, nên chưa nhận dạng được những KNS nằm trong nội dung hoạt động dạy học, giáo dục, cũng như trong các tình huống của trường, lớp để khai thác giáo dục;(2) GV chưa biết cách thực hiện GDKNS theo tiếp cận phương pháp  trong dạy học và giáo dục để giáo dục KNS;(3) Chỉ đạo và giám sát hỗ trợ GV thực hiện giáo dục KNS của CBQL còn hạn chế[2, tr15].

Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng (NCKHSPUD) tương ứng với Action Reseach trong tiếng Anh (viết tắt là AR) là một hình thức nghiên cứu khoa học giáo dục mang tính hợp tác do cán bộ quản lí, GV thiết kế, nghiên cứu nhằm tìm hiểu những vấn đề tồn tại trong thực tiễn dạy học, giáo dục diễn ra ngay trong chính nhà trường, lớp học của mình để tìm cách giải quyết vấn đề, tác động can thiệp và đánh giá tác động, …Hai yếu tố quan trọng của NCKHSPUD là tác động và nghiên cứu. Theo quan điểm của Dự án Việt- Bỉ quy trình thực hiện NCKHSPUD là một chu trình liên tục tiến triển, dường như không có kết thúc, bao gồm các bước:

-         Suy nghĩ: Quan sát thấy có vấn đề và nghĩ tới giải pháp thay thế

-         Thử nghiệm: Thử nghiệm giải pháp thay thế trong lớp học/ trường học

-         Kiểm chứng: Tìm xem giải pháp thay thế có hiệu quả hay không [1,tr 13 ].

Do đó áp dụng NCKHSPUD vào những lĩnh vực quan tâm của giáo dục nhà trường, hayđể tìm kiếm biện pháp cải tiến giáo dục KNS cho học sinh nói riêng là cần thiết. Bởi vì đó là một quá trình tự phản biện, khám  phá  của chính GV về hoạt động giáo dục KNS của mình để nâng cao hiệu quả hoạt động này. Đồng thời, qua đó năng lực nghiên cứu và năng lực nghiệp vụ của GV được phát triển.

Kemmis & Mc Taggart(1992) đã phân biệt NCKHSPUD với những hoạt động tác động thường ngày của GV như sau: (1) Đó không phải là những suy nghĩ thường ngày của GV về hoạt động dạy học của mình, mà là việc thu thập thông tin, dữ liệu, bằng chứng một cách hệ thống dựa trên cơ sở hiểu biết về thực trạng;(2)NCKHSPUD không đơn thuần là giải quyết vấn đề theo nghĩa cố gắng tìm hiểu cái gì chưa đúng đang diễn ra, mà bao hàm cả đặt vấn đề, thúc đẩy những thay đổi để cải thiện thực tế; (3)NCKHSPUD không phải là nghiên cứu do người khác thực hiện mà do chính chủ thể GV thực hiện trên chính hoạt động của mình để giúp nâng cao hiệu quả công việc đang làm;(4)NCKHSPUD không phải chỉ là một phương pháp nghiên cứu khoa học được vận dụng vào hoạt động dạy học, mà có nhiều phương pháp được thực hiện trong đó [4 ].

Qua phỏng vấn 30 GV ở Hà Nội và 50 GV ở Đồng Nai cho thấy, họ chỉ biết đến tổng kết kinh nghiệm mang nặng tính kinh nghiệm và chủ quan, chưa biết đến NCKHSPUD[3, tr12]. Trong  khuôn khổ bài viết này sẽ gợi ý kế hoạch NCKHSPUD nhằm nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho học sinh THPT, vì kế hoạch NCKHSPUD phản ánh được tất cả các bước của chu trình nghiên cứu.

II. Nội dung nghiên cứu

Khi thiết kế kế hoạch NCKHSPUD GV- người nghiên cứu cần đảm bảo quy trình các bước và thể hiện các đặc điểm của nghiên cứu sư phạm ứng dụng.Kế hoạch NCKHSPUD bao gồm các bước cụ thể sau:

1.Hiện trạng

Trong bước này gồm có các hoạt động sau:

a. GV- người nghiên cứu cần xác định được hiện trạng giáo dục KNS hiện nay, ví dụ:

Giáo dục KNS cho HS còn nhiều bất cập, thể hiện:

+ Tích hợp KNS vào bài học gặp khó khăn. GV ít vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, đều lúng túng không khai thác được tiềm năng giáo dục KNS qua nội dung bài học cũng như qua phương pháp dạy học

+Lồng ghép GDKNS qua HĐNGLL cũng hạn chế, GV thường máy móc theo sách, ít sáng tạo

+Thiếu thời gian tổ chức các chủ đề GDKNS chuyên biệt. Đồng thời, GV chưa biết tận dụng các tình huống cụ thể trong đời sống lớp học để GDKNS cho HS

 Do đó, chưa đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp ( Mục tiêu chương trình Dakar 2000)

b. GV- người nghiên cứu cần xác định được nguyên nhân của

hiện trạng giáo dục KNS hiện nay, ví dụ:

+Nhận thức về KNS của GV còn mung lung, chưa phân biệt được KNS và các kỹ năng khác của cuộc sống. Do đó, chưa nhận dạng được những KNS nằm trong nội dung hoạt động dạy học, giáo dục, trong các tình huống của  trường, lớp để khai thác giáo dục.

+ GV chưa biết cách thực hiện GDKNS theo tiếp cận phương pháp  trong dạy học và giáo dục để giáo dục KNS.

+ Chỉ đạo và giám sát hỗ trợ GV thực hiện giáo dục KNS của CBQL còn hạn chế.

c. GV- người nghiên cứu cần lựa chọn được nguyên nhân muốn thay đổi.

 Ví dụ: Dạy học là hoạt động chủ yếu trong nhà trường. Để có thể giáo dục KNS qua tất cả các môn học thì GVcần tích hợp giáo dục KNS qua tiếp cận phương pháp trong tất cả các môn học.

2. Giải pháp thay thế

Trong bước này có các hoạt động:

a. GV- người nghiên cứu cần tìm hiểu xem đã có nghiên cứu nào về cách thực hiện giáo dục KNS cho HS THPT hoặc có  biện pháp tương tự liên quan đến vấn đề này chưa?

Ví dụ: Đã có  chia sẻ kinh nghiệm về biện pháp“Bí quyết dạy kỹ năng sống qua môn Giáo dục công dân” của cô giáo Võ Thị Bích Hạnh,hoặc đã có nghiên cứu về Tiềm năng giáo dục KNS của một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực của Nguyễn Thanh Bình [2 ], 

Tiếp theo GV- người nghiên cứu cần phân tích được những kinh nghiệm và nghiên cứu trên đã chỉ ra điều gì về biện pháp giáo dục KNS cho HS?

Ví dụ: những nghiên cứu trên cho thấy GDKNS thông qua các môn học ở trên lớp có thể được thực hiện thông qua hai cách tiếp cận cơ bản: thứ nhất, khai thác nội dung môn học, lựa chọn những bài học có nội dung gần gũi, giao thoa, gắn với cuộc sống hàng ngày của đối tượng để GDKNS (GDKNS thông qua cách tiếp cận gắn với ngữ cảnh cụ thể); thứ hai, khai thác phương pháp, kĩ thuật dạy học, tạo điều kiện cho học sinh được tương tác, trải nghiệm để GDKNS. Nếu chỉ thực hiện GDKNS theo con đường thứ nhất, các KNS được giáo dục gắn với các vấn đề cụ thể, các tình huống cụ thể của cuộc sống hàng ngày thì học sinh sẽ dễ dàng thực hiện, vận dụng vào cuộc sống, tuy nhiên phạm vi thực hiện GDKNS bị hạn chế. Nếu chỉ thực hiện GDKNS theo cách tiếp cận thứ hai thì phạm vi thực hiện GDKNS được mở rộng hơn, hầu hết tất cả các bài học, các môn học đều có thể thực hiện GDKNS cho học sinh thông qua việc tạo điều kiện cho HS được tương tác, được hoạt động từ đó tạo điều kiện để người học được rèn luyện các KNS, đặc biệt là các KNS chung như: KN giao tiếp, KN hợp tác, làm việc tập thể, KN ra quyết định,... Tuy nhiên nội dung GDKNS bị dàn trải, việc vận dụng các KNS để giải quyết các vấn đề cụ thể gắn với các tình huống của cuộc sống hàng ngày sẽ không được sâu sắc. Như vậy, mỗi con đường GDKNS đều có những ưu, nhược điểm riêng. Do đó, việc GDKNS muốn mang lại hiệu quả cao thì nên thực hiện phối hợp GDKNS thông qua các môn học ở trên lớp theo cả hai cách tiếp cận: khai thác nội dung môn học để GDKNS và sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để GDKNS. Đồng thời cần có biện pháp gắn kết việc thực hiện GDKNS ở trên lớp với việc thực hiện các hành động, việc làm hàng ngày của học sinh.

b. GV- người nghiên cứu cần  thiết kế giải pháp thay thế để giải quyết vấn đề. Ví dụ: Để cải thiện chất lượng giáo dục KNS cho học sinh THPT mỗi GV cần phân biệt được KNS với các KN khác và biết khai thác tiềm năng GD KNS qua nội dung và phương pháp dạy học, giáo dục- nghĩa là biết giáo dục KNS thông qua cả cách tiếp cận nội dung và tiếp cận phương pháp đã trình bày ở trên. Như vậy, có các biện pháp giáo dục KNS  khác nhau theo những cách tiếp cận khác nhau trong từng loại hình hoạt động dạy học và giáo dục. Trong phạm vi của nghiên cứu này chỉ giới hạn ở biện pháp tích hợp giáo dục KNS cho HS thông qua tiếp cận phương pháp dạy học, cụ thể là vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để giáo dục KNS cho HS

c. GV- người nghiên cứu cần mô tả được quy trình và thời gian thực hiện giải pháp thay thế.

Ví dụ : Thời gian thực nghiệm là trong Học kì 2 năm học…..

3.Vấnđề nghiên cứu

GV- người nghiên cứu cần xác định được vấn đề nghiên cứu.

Ví dụ: GV biết khai thác tiềm năng giáo dục KNS trong phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực sẽ nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục KNS

Câu hỏi cho vấn đề nghiên cứu này có thể là:

Vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học có đồng thời nâng cao kết quả  dạy học và giáo dục KNS  hay không?

Giả thuyết của vấn đề nghiên cứu trên là: Có. Vận dụng phương pháp giáo dục, kĩ thuật dạy học tích cực có nâng cao kết quả  dạy học và kết quả giáo dục KNS nếu GV phân biệt được KNS và áp dụng đúng bản chất các phương pháp giáo dục, kĩ thuật dạy học tích cực

4.Thiết kế

GV- người nghiên cứu cần phải: 

- Chọn một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực mà GV quen dùng như: Dạy học giải quyết vấn đề; dạy học theo dự án,kĩ thuật KWL, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật XYZ, suy nghĩ-cặp đôi-chia sẻ,sơ đồ tư duy, kĩ thuật báo cáo, phát biểu, trình bày trong một phút,… để yêu cầu GV lớp thực nghiệm vận dụng khi soạn giáo án và dạy học.

- Chọn lớp và GV dạy lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Sử dụng 2 lớp nguyên vẹn trong cùng một khối có sự tương đương để làm nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm

- Mô tả GV và HS trong lớp thực nghiệm và đối chứng ( khách thể /đối tượng tham gia)

- GV- người nghiên cứu chia sẻ trao đổi kinh nghiệm với GV dạy  trong lớp thực nghiệm  để họ  phân biệt được KNS với các KN khác và biết khai thác tiềm năng GDKNS qua nội dung và phương pháp dạy học.

- GV dạy lớp thực nghiệm  trao đổi kinh nghiệm  khi  lập kế hoạch bài dạy để đảm bảo rằng họ đã lựa chọn vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực chứa đựng tiềm năng giáo dục KNS một cách phù hợp.

- GV- người nghiên cứu thiết kế kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương

+ So sánh kết quả học tập của 2 lớp dựa vào kết quả học kì 1

+ Thiết kế công cụ đo kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng lắng nghe tích cực, kĩ năng trình bày ý tưởng ngắn gọn, kĩ năng quản lí thời gian, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,… để đo trước và sau thực nghiệm

- Tiến hành  thực nghiệm ở lớp thực nghiệm và dạy bình thường ở đối chứng.

Nhóm

Đo trước thực nghiệm

Tác động

Đánh giá sau tác động

N1

O1

X

O3.

<strong style="margin:<